Cà gai leo bảo vệ gan – Nguyễn Phúc Thái 1998

Cà gai leo bảo vệ gan - Nguyễn Phúc Thái 1998 10

Bài viết được trích từ luận án: “Nghiên cứu lâm sàng, cận lâm sàng tổn thương gan do tiếp xúc nghề nghiệp với trinitrotoluen và thăm dò tác dụng bảo vệ gan của cà gai leo trên thực nghiệm” của TS Nguyễn Phúc Thái

Cagaileo xin trích dẫn một phần tài liệu

Ở người và động vật máu nóng, trinitrotoluen (TNT) tiếp xúc gây viêm niêm mạc mắt, mũi họng với biểu hiện hắt hơi, ho và đau rát họng, nó có thể gây chứng viêm da, làm biến màu da, tóc, móng thành màu vàng. TNT xâm nhập vào cơ thể gây ra tổn thương hệ thống và dẫn đến tử vong với bệnh cảnh của viêm gan nhiễm độc, thiếu máu bất sản tủy, tăng tạo MetHb…

Ngoài ra, TNT gây các chứng đau cơ, suy nhược thần kinh, suy nhược cơ thể, đục thủy tinh thể, rối loạn kinh nguyệt ở phụ nữ, rối loạn chức năng sinh dục nam, đột biến gen, gây ung thư…

Cà gai leo bảo vệ gan - Nguyễn Phúc Thái 1998 11
Chất độc TNT gây tổn thương gan

Hầu hết những tài liệu về chất độc trên thế giới đều nói đến TNT gây tổn thương gan và gây viêm gan mạn tính do những công nhân tiếp xúc dài ngày. Hội đồng giám định y khoa BNN – Viện 103 (1992 – 1995) đã giám định cho 26 trường hợp nhiễm độc TNT nghề nghiệp và 100% bị viêm gan mạn tính với 4 trường hợp bệnh đã ở giai đoạn tiền xơ gan.

Cà gai leo có tác dụng chống độc của CCl4 đối với gan (Nguyễn Minh Khai, 1988) và có chứa nhiều dược chất.

Flavonoid có khả năng chống gốc tự do (Đàm Trung Bảo, 1985), một số acid amin mang nhóm -SH ngăn mối liên kết đồng hóa trị của các chất trung gian chuyển hóa TNT với protein phân tử nhỏ trong tế bào gan, đồng thời thành phần glycoalcaloid trong cà gai leo có tác dụng như một steroid, giảm phản ứng viêm gan nhiễm độc CCl4 với tế bào gan.

TNT và CCl4 đều gây độc với gan theo cơ chế trực tiếp nên cà gai leo cũng có thể chống nhiễm độc gan do TNT như là đối với CCl4.

Phương pháp nghiên cứu

1/ Nghiên cứu trên người

  • Điều tra điều kiện lao động

Điều tra sự ô nhiễm TNT môi trường lao động (Đo nồng độ TNT không khí môi trường lao động, đánh giá mức độ độc hại theo chỉ số); Điều tra việc sử dụng trang thiết bị phòng hộ lao động

  • Khám và làm xét nghiệm sàng tuyển tại cộng đồng

Xác định sự thâm nhiễm TNT trong cơ thể: Xét nghiệm TNT trong máu và nước tiểu; Thăm khám lâm sàng bệnh gan; Xét nghiệm ChE, bilirubin TP, GOT và GPT.

  • Nghiên cứu tại khoa Bệnh nghề nghiệp – Viên 103

Xác định sự thâm nhiễm TNT  trong cơ thể (Xét nghiệm TNT trong máu và nước tiểu); Khám lâm sàng bệnh gan; Xét nghiệm máu: bilirubin TP, GOT và GPT, glucose,  cholesterol TP, protid TP, điện di protein, HBsAg, hàm lượng nhóm -SH trong máu, tỷ lệ prothrombin; Siêu âm gan mật; Sinh thiết gan mù (Tiêu bản vi thể nhuộm H.E đọc và chụp tiêu bản trên kính hiển vi quang học; Tiêu bản siêu cấu trúc dọc và chụp ảnh trên kính hiển vi điện tử)

2/ Tiến hành nghiên cứu thực nghiệm động vật

  • Cách gây độc

Lô chứng: uống 0,2 ml dầu vừng vào các buổi chiều x 6 ngày x 6 tuần

Lô uống TNT: uống 0,2 ml TNT hòa tan trong dầu vừng vào các buổi chiều (Tương đương liều 100mg/kg/ngày) x 6 ngày x 6 tuần.

Lô uống TNT và cà gai leo: uống 0,1 ml dịch chiết cây cà gai leo vào các buổi sáng ( Tương đương liều 6g/kg/ngày) x 6 ngày x 6 tuần và uống 0,2 ml TNT hòa tan trong dầu vừng vào các buổi chiều (Tương đương liều 100mg/kg/ngày) x 6 ngày x 6 tuần.

  • Các chỉ tiêu đánh giá sau 6 tuần gây độc

Đánh giá sự nhanh nhẹn, sự tiêu thụ thức ăn trong 24 giờ, cân nặng, màu sắc và tình trạng lông, màu sắc nước tiểu của động vật trước và sau thực nghiệm

Làm các xét nghiệm máu: đo hoạt độ men GOT, GPT, định lượng nhóm -SH

Đánh giá hình thái gan: Đại thể và vi thể

Điều kiện lao động của các công nhân

Các công nhân phải làm việc trong môi trường lao động thường xuyên có sự ô nhiễm TNT trong không khí vượt quá giới hạn vệ sinh cho phép, mức ô nhiễm trung bình từ 1,1 – 11,4 mg TNT/m^3 không khí, tương ứng chỉ số độc hại từ 0,5 – 0,0, là mức có thể gây tổn thương cơ thể từ mất sức lao động nhẹ tới nặng. Các phương tiện phòng hộ lao động thô sơ, không đồng bộ, dây chuyền lao động lạc hậu tạo điều kiện thuận lợi cho TNT xâm nhập cơ thể các công nhân.

Kết quả sàng tuyển tại cộng đồng

Cà gai leo bảo vệ gan - Nguyễn Phúc Thái 1998 12
Bảng 1. Tỷ lệ “Gan to, chắc” ở công nhân tiếp xúc TNT so với chứng

Nhận xét: Cỡ mẫu đủ lớn, đạt độ tin cậy >95%. Nguy cơ bị “Gan to, chắc” ở công nhân nhóm tiếp xúc TNT tăng gấp hơn 3 lần so với nhóm chứng (p<0,01)

 

Cà gai leo bảo vệ gan - Nguyễn Phúc Thái 1998 13
Bảng 2: Kết quả xét nghiệm sinh hóa gan

Nhận xét: Cỡ mẫu đủ lớn, độ tin cậy >95%. Tỷ lệ công nhân tiếp xúc TNT có hoạt độ men GOT, GPT tăng và ChE giảm trong huyết thanh cao hơn nhóm chứng, khác biệt có ý nghĩa thống kê với p< 0,01.

Kết quả nghiên cứu tác dụng bảo vệ gan của dịch chiết cà gai leo trên chuột nhiễm độc TNT qua đường tiêu hóa.

Cà gai leo bảo vệ gan - Nguyễn Phúc Thái 1998 14
Bảng 3. Kết quả xét nghiệm GPT (đơn vị U/l/h)

Nhận xét: Mẫu đủ lớn, độ tin cậy > 95%. Lô có uống cà gai leo hiện tượng tăng hoạt độ men GPT huyết thanh đã được giảm bớt so với lô gây độc bằng TNT không có cà gai leo, khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05.

 

Cà gai leo bảo vệ gan - Nguyễn Phúc Thái 1998 15
Bảng 4. Kết quả xét nghiệm GOT (Đơn vị tính U/l/h)

Nhận xét: Lô có uống cà gai leo hiện tượng tăng hoạt độ men GOT huyết thanh đã được giảm bớt so với lô gây độc bằng TNT không có cà gai leo. Để cỡ mẫu đủ lớn đạt độ tin cậy >95%, cần làm thêm 4 con mỗi lô.

 

Cà gai leo bảo vệ gan - Nguyễn Phúc Thái 1998 16
Bảng 5. Kết quả đánh giá bề mặt gan và mặt cắt của gan

Nhận xét: Biểu hiện gan nhạt màu, mặt cắt vồng do nhiễm độc TNT được giảm bớt ở lô uống TNT và cà gai leo.

 

Cà gai leo bảo vệ gan - Nguyễn Phúc Thái 1998 17
Bảng 6. Kết quả đo trọng lượng gan (mg) và thể trọng (gam) chuột

Nhận xét: 

  • Thể trọng chuột ở các lô khác biệt không có ý nghĩa thống kê
  • Tần suất tăng trọng lượng gan chuột >1483mg ở lô uống TNT lớn hơn so với lô chứng, khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,01.
  • Tần suất tăng trọng lượng gan chuột >1483mg ở lô uống TNT có uống dịch chiết cà gai leo thấp hơn lô uống TNT không có thuốc phòng, khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05.

 

Cà gai leo bảo vệ gan - Nguyễn Phúc Thái 1998 18
Bảng 7. Hình ảnh cấu trúc vi thể của các lô động vật

Nhận xét: Một số tổn thương ở lô có uống cà gai leo được giảm bớt so với lô gây độc bằng TNT không có cà gai leo (Thoái hóa mỡ và chảy máu nhu mô không xảy ra, vẫn giữ được cấu trúc tiểu thùy gan).

Bàn luận về tác dụng bảo vệ gan của dịch chiết cây cà gai leo ở chuột nhắt trắng gây độc bằng TNT

Qua kết quả phân tích trên có thể xác định cà gai leo có tác dụng bảo vệ gan chuột dưới ảnh hưởng độc của TNT. Kết quả này phù hợp với nghiên cứu hiệu quả chống xơ gan của cà gai leo ở chuột gây độc bằng CCl4 (Nguyễn Minh Khai, 1988). TNT và CCl4 đều gây độc với gan theo cơ chế trực tiếp, tăng sinh gốc tự do và cà gai leo với các thành phần dược chất đã hạn chế tác dụng độc của TNT cũng như CCl4 đối với gan.

Cà gai leo bảo vệ gan - Nguyễn Phúc Thái 1998 19
Cây cà gai leo bảo vệ gan

Về cơ chế tác dụng của cà gai leo hiện chưa được rõ, chúng tôi đưa ra giả thuyết:

  • Cà gai leo với các thành phần trong nó đã ức chế hệ cytochrome P-450, giảm sinh 4HA và các dạng oxy hóa hoạt động do nhiễm độc TNT.
  • Cà gai leo với các thành phần trong nó (Flavonoid, glycoalcaloid) đã chống oxy hóa và giảm phản ứng viêm gan nhiễm độc do TNT.

Như vậy, dịch chiết cây cà gai leo có tác dụng bảo vệ gan chuột dưới ảnh hưởng độc của TNT với các khả năng: hạn chế tăng trọng lượng gan do nhiễm độc; ngăn chặn thoái hóa mỡ và hiện tượng chảy máu vi thể trong nhu mô; làm giảm sự hủy hoại và hoại tử tan rã nhu mô gan, do đó bảo tồn được cấu trúc nan hoa của tiểu thùy gan.

Trên đây là nghiên cứu về tác dụng bảo vệ gan của cây cà gai leo được TS Nguyễn Phúc Thái thực hiện, mong rằng sau bài viết này các bạn sẽ hiểu thêm nhiều những công dụng tuyệt vời mà loại thảo dược này mang lại cho sức khỏe. Để biết thêm các nghiên cứu khoa học về cây cà gai leo bạn đọc có thể tham khảo tại cagaileovn.com

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *