Cà gai leo chống viêm gan, ức chế xơ gan Phần 2

Cà gai leo chống viêm gan, ức chế xơ gan Phần 2 6

Bài viết được trích từ tài liệu: “Nghiên cứu cây cà gai leo (Solanum procumbens Lour., Solanaceae) làm thuốc chống viêm gan và ức chế xơ gan” của TS. Nguyễn Thị Bích Thu

Cagaileovn xin trích dẫn một phần luận án

Cây cà gai leo được sử dụng khá phổ biến trong dân gian Việt Nam, Cà gai leo có tên khoa học là Solanum procumbens, ngoài ra cây còn được gọi với những tên khác là cà gai dây, cà vạnh, cà quýnh, cà lù, cà bò, cà Hải Nam, cà quạnh, quánh, gai cườm, là loài thực vật thuộc họ Cà Solanaceae. Loài này phân bố ở các tỉnh miền Bắc cho đến Huế tại Việt Nam, Lào, Campuchia, Trung Quốc. Loài này được xem là cây thuốc nam có tác dụng giải độc gan tốt nhất hiện nay.

ca-gai-leo
Cà gai leo

Chính vì vậy, nhiều nghiên cứu khoa học cấp nhà nước, luận án tiến sĩ đã được thực hiện về cây Cà gai leo chứng minh tác dụng tuyệt vời trên gan của cây thuốc này.

Thành phần trong cây cà gai leo

Bằng các phản ứng hóa học đặc trưng đã chứng minh trong các bộ phận của cà gai leo như rễ, thân, lá và quả có những thành phần hóa học chủ yếu như alcaloid, glycoalcaloid, steroid saponin, flavonoid, phytosterol, chất béo, carotenoid, coumarin, acid hữu cơ, đường khử tự do, amino acid.

Định tính được một số nhóm chất chính trong cà gai leo bằng sắc kí lớp mỏng và sắc kí giấy, như sterol, alcaloid, glycoalcaloid, coumarin, flavonoid, acid phenolic,…

Đã xây dựng phương pháp định lượng glycoalcaloid trong cà gai leo bằng phương pháp đo quang. Từ đó đã khảo sát chất lượng nguyên liệu cà gai leo ở một số địa phương và hàm lượng glycoalcaloid toàn phần ở các bộ phận khác nhau. Kết quả hàm lượng glycoalcaloid toàn phần trong quả cà gai leo cao nhất (0,45%), tiếp đến là trong lá (0,36%), rồi đến rễ (0,2%) và thấp nhất là trong thân (0,08%).

Cà gai leo chống viêm gan, ức chế xơ gan Phần 2 7
Cấu trúc phân tử solasonin

 

Cà gai leo chống viêm gan, ức chế xơ gan Phần 2 8
Cấu trúc phân tử acid cafeic

Đã phân lập được một glycoalcaloid S1 (thủy phân S1 cho S2) và  acid phenolic S3. Bằng các phương pháp hóa lý hiện đại, đã xác định được S1 là solasonin, S2 là solasodin và S3 là acid cafeic.

Kết quả nghiên cứu quy trình chiết xuất

Nghiên cứu quy tình sản xuất bán thành phẩm Haina I

(1) Xử lý nguyên liệu: Dược liệu cà gai leo gồm rễ, thân, cành, lá được chọn lọc, loại bỏ tạp chất, phơi khô, sấy từ 50 – 80 độ C cho đến khi khô hẳn, tán thành bột khô đường kính 1,2 – 2 mm.

Chiết bằng máy chiết đa năng

Dược liệu sau khi cân được làm ẩm qua bằng cồn vừa đủ. Sau đó cho vào túi vải thô, buộc chặt hoặc cho vào rọ chiết có đục lỗ nhỏ, dưới có tấm lọc. Đổ cồn ngập dược liệu 10 cm với tỷ lệ dược liệu : cồn là 1 : 5. Ngâm chiết dược liệu 3 lần, mỗi lần 24 giờ. Trong thời gian chiết thường xuyên đảo dịch. Rút dịch chiết ra, lọc qua vải. Dịch chiết được thu hồi cồn dưới áp suất giảm đến cạn

Tập trung các dịch chiết đặc đã thu hồi hết cồn vào các khay inox. Sấy ở tủ sấy dưới áp suất giảm hoặc ở nhiệt độ không quá 50 – 60 độ C cho đến khi cao khô. Lấy mẫu đi kiểm nghiệm. Cao khô được cạo ra, để nguội. Đóng gói vào túi polyethylen và bảo quản theo quy định.

(2) Sơ đồ sản xuất

Cà gai leo chống viêm gan, ức chế xơ gan Phần 2 9
Sơ đồ sản xuất bán thành phẩm Haina I

Hiệu suất chiết từ dược liệu là 7 – 7,5 %

Bán thành phẩm Haina I thu được chứa không ít hơn 1% glycoalcaloid toàn phần.

Nghiên cứu quy tình sản xuất bán thành phẩm Haina II

Bột Haina I đã được chứng minh có tác dụng chống viêm, hạn chế sự phát triển của xơ gan và được bào chế dưới dạng viên nén bao phim.

Tuy nhiên việc bào chế viên Haina I gặp nhiều khó khăn do trong sản phẩm chiết toàn phần có những phân tử ưa nước dễ làm viên bị chảy nhão, gây bất lợi cho việc sản xuất và bảo quản và bệnh nhân phải dùng một liều lớn.

Chúng tôi đã nghiên cứu quy trình chiết xuất mới tạo sản phẩm Haina II tập trung hoạt chất chính là glycoalcaloid và một số thành phần khác, loại bỏ được những phần tử gây chảy nhão.

Cà gai leo chống viêm gan, ức chế xơ gan Phần 2 10
Sơ đồ chiết xuất bột Haina II

Hiệu suất chiết từ dược liệu từ 1,21% – 1,47%

Sản phẩm Haina II thu được là bột khô, có hàm lượng glycoalcaloid là 10%-12%

Các hóa chất đơn giản, quy trình dễ thao tác.

Việc nghiên cứu chiết xuất bột Haina II đã đáp ứng yêu cầu cải tiến một bước dạng bào chế. Từ bột khô Haina II dễ dàng bào chế thuốc dưới dạng viên nang thay cho viên nén bao phim Haina I.

Kết quả nghiên cứu tác dụng sinh học

1/ Tác dụng chống viêm mạn của dạng chiết toàn phần và glycoalcaloid điều chế từ cà gai leo trên mô hình u hạt thực nghiệm

Kết quả cho thấy hai dạng chiết toàn phần và glycoalcaloid của cà gai leo đều có tác dụng chống viêm mạn có ý nghĩa (P<0,05). Các liều hàng ngày dạng chiết toàn phần và glycoalcaloid tương đương 15g dược liệu/kg trong 5 ngày đã ức chế tạo u hạt với các mức độ tương đương 42,2% và 35,2% so với đối chứng. Vậy hoạt chất chống viêm chính của cà gai leo thuộc nhóm glycoalcaloid.

2/ Tác dụng của cà gai leo trên colagenase

Dạng chiết toàn phần và glycoalcaloid tỷ lệ 1/2 đều có tác dụng ức chế colagenase. Riêng dịch chiết toàn phần tỷ lệ 1/6, 1/10 và dịch chiết glycoalcaloid ở tỷ lệ 1/2 có tác dụng hoạt hóa.

Trong 4 phân đoạn chiết từ cà gai leo (n-hexan, EtOAc, butanol, nước) thì phân đoạn butanol có tác dụng ức chế mạnh hơn cả. Theo kết quả nghiên cứu hóa học, thì phân đoạn butanol chứa tỷ lệ lớn glycoalcaloid.

3/ Tác dụng của cà gai leo trên mô hình gây xơ gan thực nghiệm

Các kết quả nghiên cứu trước đây đã chứng minh dịch chiết toàn phần của cà gai leo làm giảm hàm lượng colagen ở một số mô của chuột nhắt bình thường. Trên mô hình gây xơ gan thực nghiệm, nó ngăn chặn sự tiến triển của xơ gan cả về số lượng và chất lượng, làm giảm lượng colagen, giảm mức độ liên kết ngang và mức độ xơ về mô học.

Tiếp tục nghiên cứu tác dụng ức chế quá trình xơ gan của cà gai leo nhằm chứng minh bộ phận hoạt chất có tác dụng ức chế xơ gan invivo, chúng tôi đã chiết glycoalcaloid từ cà gai leo nhằm mục đích tìm hiểu tác dụng của nhóm chất này trên quá trình xơ gan.

Chế phẩm thử : Dịch chiết toàn phần và glycoalcaloid cà gai leo

Liều mỗi ngày tương đương 6g cà gai leo/kg thể trọng chuột.

Khảo sát sự biến đổi hàm lượng colagen ở chuột gây xơ 5 tuần và 12 tuần

Chuột gây xơ 5 tuần, hàm lượng colagen gan tăng không có ý nghĩa thống kê, nhưng ở chuột gây xơ 12 tuần, hàm lượng colagen gan trung bình tăng 157,9% (P<0,001). Như vậy, mô hình gây xơ gan 12 tuần trên chuột cống trắng thích hợp để nghiên cứu tác dụng chống xơ gan của các chế phẩm cà gai leo.

Nghiên cứu tác dụng của chế phẩm cao toàn phần và glycoalcaloid điều chế từ cà gai leo đến hàm lượng colagen gan ở chuột gây xơ gan thực nghiệm

Biểu đồ biểu diễn tác dụng của dịch chiết toàn phần và glycoalcaloid điều chế từ cà gai leo đến hàm lượng colagen gan ở chuột gây xơ gan thực nghiệm
Biểu đồ biểu diễn tác dụng của dịch chiết toàn phần và glycoalcaloid điều chế từ cà gai leo đến hàm lượng colagen gan ở chuột gây xơ gan thực nghiệm

Sau 12 tuần gây xơ và cho chuột cống trắng ở lô thử thuốc uống hằng ngày cà gai leo dạng cao toàn phần hoặc dạng glycoalcaloid, nhân thấy ở các lô gây xơ (có điều trị hoặc không điều trị ), hàm lượng trung bình colagen đều tăng cao so với lô chuột bình thường. Tuy nhiên, ở lô gây xơ gan và uống cà gai leo, hàm lượng colagen gan thấp hơn ở lô chứng gây xơ. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê.

Đồ thị hình 3 chỉ rõ hàm lượng colagen gan ở lô chuột gây xơ tăng gấp 2,5 lần so với hàm lượng này ở chuột bình thường, trong khi lô chuột gây xơ điều trị bằng cà gai leo (dạng toàn phần hoặc dạng glycoalcaloid), hàm lượng colagen gan giảm tương ứng 27% và 27,6% so với chuột chứng gây xơ (P<0,05)

 Tác dụng của dịch chiết  toàn phần và glycoalcaloid điều chế từ cà gai leo đến mức độ liên kết ngang của colagen gan ở chuột gây xơ gan thực nghiệm

Mức độ liên kết ngang của colagen gan được đánh giá dựa trên tỷ lệ phần trăm colagen gan bị thủy phân sau 2,5 giờ so với sau 8 giờ. Kết quả thí nghiệm được trình bày ở bảng. Tỷ lệ % colagen bị thủy phân sau 2,5 giờ so với sau 8 giờ giảm xuống có ý nghĩa là mức độ liên kết ngang của colagen giảm xuống.

Cà gai leo chống viêm gan, ức chế xơ gan Phần 2 11
Biểu đồ biểu diễn tác dụng của dịch chiết  toàn phần và glycoalcaloid điều chế từ cà gai leo đến mức độ liên kết ngang của colagen gan ở chuột gây xơ gan

Mức độ liên kết ngang của colagen gan ở nhóm gây xơ chứng (2) so với chuột bình thường (1) tăng rõ rệt (P<0,05), thể hiện ở tỷ lệ % colagen gan bị thủy phân sau 2,5 giờ so với 8 giờ giảm. Mức độ liên kết ngang của nhóm gây xơ gan và được điều trị với chiết toàn phần (3) hoặc glycoalcaloid (4) so với nhóm chuột bình thường (1) không khác nhau có ý nghĩa thống kê (P>0,05).

Ngược lại dịch chiết toàn phần và glycoalcaloid đã làm giảm có ý nghĩa (P<0,05) mức độ liên kết ngang của colagen so với chứng gây xơ. Kết quả này cho thấy cả hai dạng chiết toàn phần và glycoalcaloid đều có tác dụng làm giảm mức độ liên kết ngang colagen trong mô gan.

Ảnh hưởng của dịch chiết toàn phần và glycoalcaloid điều chế từ cà gai leo về mặt mô học (Khoa Giải phãu bệnh lý, Bệnh viện Việt Đức thực hiện)

Tùy theo mô xơ phát triển nhiều hay ít, chúng tôi chia thành các mức độ: không xơ, xơ nhẹ, xơ vừa, xơ nặng. Kết quả cho thấy cả hai dạng chế phẩm cao toàn phần và glycoalcaloid điều chế từ cà gai leo làm giảm mức độ xơ rõ rệt ở chuột gây xơ so với lô gây xơ chứng. Vậy nhóm hoạt chất có tác dụng chính là nhóm glycoalcaloid.

Tóm lại, các dạng chiết toàn phần và glycoalcalid cuả cà gai leo có tác dụng ngăn chặn sự phát triển của xơ trên mô hình xơ gan thực nghiệm. Kết quả thể hiện trên các chỉ tiêu hóa sinh và mô học.

Người dân Việt Nam thường sử dụng cà gai leo để hãm uống hàng ngày nhưng không  phải ai cũng biết và hiểu rõ tất cả những công dụng tuyệt vời mà cà gai leo đem lại cho sức khỏe. Mong rằng sau bài viết này các bạn sẽ có thêm hiểu biết về tác dụng của cây cà gai leo. Bạn đọc có thể tham khảo thêm các nghiên cứu khoa học về cà gai leo tại Cagaileovn.com

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *