Thuốc Haina trị viêm gan virus B mạn hoạt động phần 1

Thuốc Haina trị viêm gan virus B mạn hoạt động phần 1 9

Bài viết được trích từ luận án “Một số đặc điểm lâm sàng, siêu cấu trúc gan và hiệu quả bước đầu điều trị bệnh nhân viêm gan virus B mạn hoạt động bằng thuốc Haina” của TS Trịnh Thị  Xuân Hòa

Cagaileo xin trích dẫn một phần tài liệu

Viêm gan virus là gì?

Viêm gan virus là bệnh truyền nhiễm phổ biến và là một vấn đề y tế rất đáng quan tâm của nhiều nước trên thế giới. Bệnh lưu hành ở các nước trên thế giới với tỷ lệ khác nhau và đặc biệt cao ở các nước đang phát triển.

Trong 6 loại virus viêm gan đã biết: A, B, C, D, E và G, virus viêm gan B (HBV) là một trong những virus viêm gan được quan tâm nhiều nhất bởi tỷ lệ nhiễm, khả năng gây bệnh, những hậu quả nặng nề (Viêm gan virus B mạn hoạt động – VGBMHĐ, xơ gan, ung thư tế bào gan – HCC…) và cho đến nay vẫn chưa có thuốc điều trị có hiệu quả.

Theo thống kê của Tổ chức y tế thế giới năm 1997, trên thế giới có khoảng 2 tỷ người đã nhiễm HBV, trong đó có hơn 350 triệu người ( riêng châu Á có trên 200 triệu) mang virus mạn tính, tử vong hàng năm là 1 – 2 triệu người. Việt Nam là nước nằm trong vùng có tỷ lệ nhiễm HBV cao, tỷ lệ mang HBsAg là 14% dân số, tỷ lệ có anti-HBs là 50% (Đào Đình Đức và cộng sự, 1997).

Thuốc Haina trị viêm gan virus B mạn hoạt động phần 1 10
Viêm gan B mạn hoạt động

Viêm gan virus B mạn hoạt động là thể bệnh tiến triển liên tục đến xơ gan và ung thư tế bào gan với tỷ lệ rất cao. Do vậy, việc chẩn đoán và điều trị là vấn đề rất cần thiết

Thuốc điều trị viêm gan virus B mạn hoạt động

Điều trị viêm gan virus B mạn hoạt động cho tới nay vẫn còn nan giải. Nhiều thuốc đã được đưa vào điều trị, song chưa có loại thuốc nào đem lại hiệu quả mong muốn. Trong những năm gần đây, Interferon (IFN) đã được áp dụng điều trị và đem lại một số kết quả khả quan.

Tuy được coi là thuốc điều trị tốt nhất hiện nay, nhưng hiệu quả điều trị cũng chỉ đạt 30 – 45% và khi ngừng thuốc có 10 – 15% trường hợp tái phát. Mặt khác, IFN có rất nhiều tác dụng ngoại ý, có trường hợp phải ngừng thuốc. Hơn nữa, giá thành còn quá đắt, nên khó có thể dùng rộng rãi trong hoàn cảnh như nước ta.

Vì các lý do trên nên việc tìm kiếm các thuốc có tác dụng điều trị, ít tác dụng ngoại ý, từ dược liệu trong nước là nhu cầu thiết thực đối với ngành y tế nước ta.

Những công trình nghiên cứu của Viện Dược liệu TW đã chững minh cây cà gai leo (Solanum hainanense Hance) có tác dụng chống viêm, chống xơ hóa mô, có khả năng làm chậm quá trình phát triển xơ trong mô gan ở chuột bị gây độc bằng carbon tetraclorid. Thuốc đã được Viện Dược liệu TW chế thành dạng viên nén mang tên HAINA. Thuốc cũng đã được kiểm nghiệm trên người tình nguyện và được Bộ Y tế cho phép dùng cho bệnh nhân.

Do vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này nhằm mục đích:

  • Tìm hiểu đặc điểm lâm sàng ở bệnh nhân VGBMHĐ
  • Nghiên cứu tổn thương siêu cấu trúc gan ở bệnh nhân VGBMHĐ
  • Đánh giá tác dụng điều trị của thuốc HAINA trên bệnh nhân VGBMHĐ và tìm hiểu tác dụng ngoại ý của thuốc (nếu có).

Giới thiệu về cây cà gai leo

ca-gia-leo
Cây cà gai leo

Cây cà gai leo (Solanum hainanense Hance, Solanum procumbens Lour, Solanaceae): Cà gai leo mọc hoang ở khắp mọi nơi, từ vùng núi thấp đến trung du và vùng đồng bằng ven biển ở nước ta. Trong dân gian thường sử dụng toàn bộ cây cà gai leo làm thuốc chữa một số chứng sốt, chảy máu chân răng, rắn cắn, dị ứng,…Viện Dược liệu TW đã nghiên cứu và xác định thành phần hóa học của cà gai leo bao gồm:

– Glycoalcaloid: Solasonin, Solasodin, Solasodinon

– Acid amin: Prolin, hydroxyprolin, methionin

– Acid nhân thơm: Acid chlorogenic, acid coffeic, flavonoid.

Từ kết quả nghiên cứu trên cho thấy một số hoạt chất của cà gai leo có cấu trúc nhân steroid. Do đó cũng có thể có tác dụng chống viêm và ức chế tổng hợp collagen như một số corticoid khác. Trên mô hình xơ gan thực nghiệm ở chuột bằng carbon tetraclorid, cà gai leo đã ngăn chặn sự phát triển của xơ gan cả về số lượng và chất lượng

Ở nồng độ thấp cà gai leo còn làm hoạt hóa collagenase, làm phân giải mô xơ và giảm mức độ xơ. Từ cao cồn  cà gai leo, Viện Dược liệu TW đã đóng thành viên HAINA 0,25 g. Thuốc HAINA đã được dùng cho 10 người tình nguyện và không thấy có tác dụng ngoại ý nào. Thuốc đã được phép sử dụng trong lâm sàng

Hiệu quả điều trị của Haina ở bệnh nhân VGBMHĐ và tác dụng ngoại ý

1/ Đặc điểm lâm sàng, xét nghiệm và hình ảnh giải phẫu bệnh lý của 2 nhóm trước điều trị

Thuốc Haina trị viêm gan virus B mạn hoạt động phần 1 11
Bảng 1: Đặc điểm chung của 2 nhóm nghiên cứu

Không có sự khác biệt giữa 2 nhóm nghiên cứu về giới, tuổi, cân nặng và các triệu chứng về lâm sàng, xét nghiệm, marker HBV cũng như tổn thương giải phẫu bệnh lý vi thể và siêu cấu trúc.

2/ Đánh giá hiệu quả điều trị của thuốc HAINA ở bệnh nhân VGBMHĐ

– Những biến đổi về lâm sàng ở bệnh nhân VGBMHĐ sau điều trị

Thuốc Haina trị viêm gan virus B mạn hoạt động phần 1 12
Bảng 2: So sánh biến đổi lâm sàng của 2 nhóm sau điều trị

Sau một tháng điều trị, các triệu chứng (mệt mỏi, mất ngủ, đau tức hạ sườn phải, da – niêm mạc vàng…) đều giảm nhanh hơn ở nhóm 1 so với nhóm 2 (P<0,05). Tuy vậy, sau 2 tháng sự thay đổi này không rõ rệt (P>0,05) (trừ triệu chứng mệt mỏi).

-Những biến đổi về xét nghiệm ở bệnh nhân VGBMHĐ sau điều trị

Thuốc Haina trị viêm gan virus B mạn hoạt động phần 1 13
Bảng 3: So sánh thay đổi một số xét nghiệm sinh hóa giữa 2 nhóm sau điều trị

– Biến đổi các marker của HBV sau điều trị

Thuốc Haina trị viêm gan virus B mạn hoạt động phần 1 14
Bảng 4: So sánh các marker HBV trước và sau điều trị 2 tháng.

So sánh giữa 2 nhóm, tỷ lệ HBsAg về (-) và xuất hiện anti – HBe ở nhóm 1 cao hơn nhóm 2 rõ rệt (P<0,05)

– Những biến đổi về giải phẫu bệnh lý ở bệnh nhân VGBMHĐ sau điều trị

+ Đánh giá tổn thương vi thể theo phương pháp cho điểm

Thuốc Haina trị viêm gan virus B mạn hoạt động phần 1 15
Bảng 5: So sánh tổn thương GPBL mô gan theo phương pháp cho điểm trước và sau điều trị

Tổn thương khoảng cửa ở nhóm 1 giảm hơn nhóm 2 rõ rệt với P<0,05

+ Biến đổi siêu cấu trúc gan sau điều trị

Thuốc Haina trị viêm gan virus B mạn hoạt động phần 1 16
Bảng 6: Tổn thương siêu cấu trúc mô gan sau điều trị

– Tác dụng ngoại ý của thuốc HAINA trên lâm sàng và xét nghiệm

Theo dõi 30 bệnh nhân VGBMHĐ được điều trị bằng HAINA không thấy có tác dụng ngoại ý trên lâm sàng cũng như không có thay đổi ở các xét nghiệm ure, creatinin, công thức máu. Ngược lại, ở nhóm điều trị HAINA còn thấy tăng hồng cầu sau điều trị (P<0,05).

-Đánh giá chung kết quả điều trị

Thuốc Haina trị viêm gan virus B mạn hoạt động phần 1 17
Bảng 7: Đánh giá kết quả sau 2 tháng điều trị

Đánh giá chung kết quả sau điều trị, nhóm 1 có 66,7% bệnh nhân ở mức rất tốt và tốt. Ngược lại, nhóm 2 có 93,3% bệnh nhân ở mức trung bình và kém.

Thông qua nghiên cứu của TS Trịnh Thị Xuân Hòa, đã chứng minh được các tác dụng của thuốc HAINA nói riêng và các chế phẩm dược được chiết xuất từ cà gai leo nói chung đối với bệnh nhân viêm gan B mạn hoạt động. Hơn nữa, thuốc HAINA còn đặc biệt an toàn trong sử dụng điều trị vì nó có độc tính rất thấp (gần như không).

Bạn đọc có thể tham khảo thêm các bài viết nghiên cứu khoa học về cây cà gai leo tại Cagaileovn.com

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *